Trang Chủ

Sơ lược kinh tế Việt Nam

Việt Nam là nền kinh tế thị trường đinh hướng XHCN,  đa phần lệ thuộc vào xuất khẩu thô và vốn đầu tư từ nước ngoài. Đây là nền kinh tế lớn xếp bậc 6 ở Đông Nam Á trong số 11 quốc gia ASEAN; lớn thứ 48 trên thế giới xét theo quy mô tổng sản phẩm nội địa danh nghĩa năm 2013 và đứng thứ 128 xét theo tổng sản phẩm nội địa danh nghĩa bình quân đầu người. Tổng Thu nhập nội địa GDP năm 2015 là 198,8 tỷ USD. Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương xây dựng ở Việt Nam một hệ thống kinh tế thị trường. Tính đến tháng 11 năm 2007, đã có Trung Quốc, Nga, Venezuela, Nam Phi, ASEAN và Ukraina tuyên bố công nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường đầy đủ, đến năm 2013 đã có 37 quốc gia công nhận Việt Nam đạt kinh tế thị trường (VCCI) trong đó có Nhật Bản, Đức,Hàn Quốc.

Xét về mặt kinh tế, Việt Nam là quốc gia thành viên của Liên Hiệp Quốc, Tổ chức Thương mại Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Nhóm Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển châu Á, Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương, ASEAN. Việt Nam tham gia các hiệp định thương mại tự do đa phương với các nước ASEAN, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc và một số nước khác. Việt Nam cũng đã ký với Nhật Bản một hiệp định đối tác kinh tế song phương.

Nguồn: Wikipedia

CarbonForumAsia cung cấp thông tin về các mặt hàng xuất khẩu

1. Điện thoại các loại & linh kiện: ước tính xuất khẩu nhóm hàng này trong tháng 2/2017 là 2,5 tỷ USD, tăng 7,3% so với tháng trước. Ước tính đến hết tháng 2/2017, xuất khẩu hàng điện thoại các loại và linh kiện của cả nước đạt 4,83 tỷ USD, tăng 2,6% so với cùng kỳ năm trước.

2. Hàng dệt may: ước tính trong tháng 2/2017, xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước đạt 1,5 tỷ USD, giảm 30,4% so với tháng trước và nâng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may 2 tháng đầu năm lên 3,66 tỷ USD, tăng 12,2% so với cùng kỳ năm trước.

3. Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện: trị giá xuất khẩu trong tháng 2/2017 ước tính đạt 1,6 tỷ USD, tăng 6,4% so với tháng trước. Tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này trong 2 tháng đầu năm ước tính là 3,1 tỷ USD, tăng 34,4% so với cùng kỳ năm trước.

4. Hàng giày dép: trị giá xuất khẩu trong tháng 2/2017 ước tính đạt 900 triệu USD, giảm 23% so với tháng trước, nâng tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này trong 2 tháng đầu năm lên 2,07 tỷ USD, tăng 10,7% so với cùng kỳ năm trước.

5. Máy móc thiết bị, dụng cụ, phụ tùng: trị giá xuất khẩu trong tháng 2/2017 ước tính đạt 850 triệu USD, giảm 13% so với tháng trước. Tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này trong 2 tháng đầu năm ước tính là 1,83 tỷ USD, tăng 41,8% so với cùng kỳ năm trước.

6. Phương tiện vận tải và phụ tùng: trị giá xuất khẩu trong tháng 2/2017 ước tính là 450 triệu USD, giảm 25% so với tháng trước, nâng trị giá xuất khẩu nhóm hàng này trong 2 tháng đầu năm lên 1,05 tỷ USD, tăng 12,7% so với 2 tháng/2016.

7. Gỗ và sản phẩm gỗ: trị giá xuất khẩu trong tháng 2/2017 ước tính là 400 triệu USD, giảm 34,3% so với tháng trước. Qua đó, nâng tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này trong 2 tháng đầu năm lên 1,01 tỷ USD, tăng 7,7% so với cùng kỳ năm trước.

8. Hàng thủy sản: ước tính trong tháng 2/2017, xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước là 400 triệu USD, giảm 18,8% so với tháng trước. Qua đó, nâng kim ngạch xuất khẩu hàng thủy sản 2 tháng đầu năm lên 893 triệu USD, tăng 2,5% so với cùng kỳ năm trước.

9. Cà phê: xuất khẩu trong tháng 2/2017 ước tính là 130 nghìn tấn, giảm 7,4% so với tháng trước và trị giá là 293 triệu USD, giảm 7,5%. Lượng xuất khẩu cà phê trong 2 tháng đầu năm ước đạt 270 nghìn tấn với trị giá đạt 610 triệu USD, giảm 8,2% về lượng và tăng 21,1% về trị giá so với 2 tháng/2016.

10. Dầu thô: xuất khẩu trong tháng 2/2017 ước tính đạt 540 nghìn tấn, tăng 7,9% so với tháng trước và trị giá là 225 triệu USD, tăng 8,4%. Lượng xuất khẩu dầu thô trong 2 tháng đầu năm ước đạt 1,04 triệu tấn, trị giá ước đạt 432 triệu USD, giảm 9,6% về lượng và tăng 46,3% về trị giá so với cùng kỳ năm trước.